Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

VẠCH TRẦN SỰ THẬT MỘT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA CÔ THU UYÊN (VTV)

Sự thật về Chương trình 
"NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY LẦN THỨ 11"

Minh Nguyễn 


Cách đây năm năm, vào đêm mồng 4 tháng 10 năm 2008, có lẽ chưa bao giờ những người thân của gia đình Đại tá Đinh Hữu Tấn, các bạn bè là cựu chiến binh thuộc Sư đoàn 320B cũng như những cựu chiến binh thuộc các đơn vị mà ông Tấn từng lãnh đạo trước đó và sau này, lại xúc động đến như thế, khi tất cả được chứng kiến khoảnh khắc người lính già đang bị căn bệnh Parkinson làm chân tay run lẩy bẩy, chồm bật dậy, lật đật ôm chầm lấy cậu con nuôi Võ Văn Phước từ trong sân khấu mếu máo bước ra trường quay. Hai cha con nghẹn ngào không nói nên lời, nước mắt chảy tràn, khiến tất cả bỗng chốc lặng đi.


Đó là buổi truyền hình trực tiếp chương trình NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY (NCHCCCL) trên VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam lần thứ 11. Điều đặc biệt gây xúc động đối với khán giả còn vì, đây là sự đoàn tụ hiếm hoi giữa một cán bộ chỉ huy Quân đội trong cuộc giao tranh đẫm máu, đã nhận một em bé con một người lính bên đối phương làm con nuôi, khi em bị lạc gia đình giữa dòng người di tản đang hoảng loạn. Mặc dù theo lệnh của trên, anh phải giao lại cho bộ đội địa phương, nhưng không vì thế mà anh quên được tình cảm của cậu bé đối với mình trong những ngày ngắn ngủi ấy. Anh đã đưa cậu bé đi từ Cheo Reo Phú Bổn, dọc theo đường Bảy, hành quân vào Nam chiến đấu, rồi dừng lại ở Củ Chi. Những năm tháng sau chiến tranh, anh mòn mỏi hỏi thăm về Võ Văn Phước, viết cả lên báo Cựu chiến binh và nhờ rất nhiều người tìm kiếm thêm, nhưng bặt vô âm tín.
Đại tá Đinh Hữu Tấn tìm lại được đứa con nuôi, không chỉ làm cho tinh thần anh thoát khỏi sự bứt rứt nhớ thương trong mấy chục năm qua, mà cả gia đình anh và bạn bè khắp nơi đều nhận thấy niềm vui của anh đã trọn vẹn. Tôi là người rất thân với Đại tá, cho nên niềm vui của anh cũng là niềm vui của tôi và gia đình tôi. Tôi từng được anh kể nhiều về những ngày cuối cùng trong cuộc chiến tranh Nam Bắc ấy. Chuyện về Võ Văn Phước bao giờ cũng được anh nói nhiều, viết nhiều. Chính vì thế, khi nhận được tin của chương trình NCHCCCL báo về gia đình, anh phấn khởi và hồi hộp lắm. Anh sắp xếp và chuẩn bị. Anh điện cho tôi và nhiều người thân về những kế hoạch, những dự định về tương lai khi có thêm một thành viên mới trong gia đình mình. Cứ như vợ chồng người lính già vừa sinh thêm một đứa con trong cuộc đời đã quá chiều muộn rồi. Anh nói: “Mình có ít tiền tiết kiệm đã thủ sẵn túi rồi nhé”. Tôi hỏi: “Thế anh có định đưa cháu về ngoài Bắc cùng anh không?”. “Cũng có thể lắm chứ!”. Rồi anh cười, tiếng cười của một người lính già mà nghe sao trẻ trung như của một chàng thanh niên mới lớn thế không biết. “Mình cứ nghĩ nó vẫn còn tý tẹo cậu ạ. Thằng bé nó hay lắm, nó tình cảm lắm, đêm ngủ nó thủ thỉ với mình đủ điều... không biết bây giờ nó bao lớn, không biết nó có nhận ra mình nữa không đây!”.
Thế nhưng, sau cuộc gặp mặt, được biết cuộc sống hiện tại của Phạm Văn Long (tên mới của Võ Văn Phước theo giới thiệu của MC Thu Uyên cho Đại tá Tấn) và vợ con cũng rất ổn. Vì thế, anh em chúng tôi theo gia đình Long lên thăm bố mẹ vợ của anh ta ở Tân Uyên Bình Dương mà thôi chứ không còn dự định gì khác như tôi nghĩ lúc đầu. Ở đây chúng tôi được biết vợ chồng Long - Trang cũng có một nếp nhà nhỏ cạnh nhà bố mẹ vợ, lại được gia đình bên vợ cho một vườn cao su sắp thu hái. Hiện tại vợ đi làm công nhân, còn chồng ở nhà lo toan mọi việc trong gia đình. Đại tá đã có những tình cảm hết sức mặn nồng khi gặp gỡ với gia đình bên vợ của Long/Phước. Hôm ấy, có bao nhiêu tiền mang theo anh đưa hết cho vợ chồng Phạm Văn Long. Anh nói với ông Lữ thân sinh ra cháu Trang: “Tôi không biết phải cảm ơn ông bà như thế nào nữa, vì ông bà và gia đình trong một thời gian dài đã giúp đỡ con chúng tôi nên người, lo cho nó có vợ có con đề huề như thế này, thật cảm động lắm. Nhưng cũng nói thật với ông bà, nếu như thằng Phước ở với chúng tôi ngay từ bé, nó không đến nỗi lận đận như trước khi đến với con ông bà đâu. Sự đời tréo ngoe như thế ai mà biết được, phải không ông? Và lúc này, cũng xin ông bà thông cảm cho, tôi chưa có điều kiện lo được cho các cháu. Vì vậy, một lần nữa, tôi lại nhờ ông bà, ông bà hãy thay chúng tôi giúp đỡ các cháu trong thời gian tới. Chưa biết rồi cuộc sống tới đây sẽ như thế nào, nhưng tôi tin – rất tin rằng – sau lần gặp gỡ này, các cháu sẽ nỗ lực vươn lên. Tôi và ông bà sẽ không phải hổ thẹn về chúng đâu!...”.
clip_image002
Vợ chồng Đại tá Đinh Hữu Tấn và gia đình Phạm Văn Long cùng bố mẹ vợ
.
clip_image004
Vợ chồng Đại tá và vợ chồng Phạm Văn Long
.
Sau khi vợ chồng anh Đinh Hữu Tấn ra Bắc, gia đình Phạm Văn Long vẫn thường xuyên xuống gia đình tôi chơi. Tôi có hỏi Long nhiều chuyện về gia đình trước lúc bị thất lạc. Nhưng thật kỳ lạ, Long không hề nhớ một chuyện gì về gia đình mình hồi còn nhỏ. Khi trả lời tôi, cậu ta thường nhìn đi chỗ khác và hay nói lảng sang những chuyện không đâu. Rồi một lần chỉ có cô Trang đưa hai cháu xuống. Cô báo tin có một người đến nhận Phạm Văn Long là con đẻ sau khi xem NCHCCCL. Ông ta nói nếu hai vợ chồng đồng ý thì đến quê ông ta mà ở. Nhưng vợ chồng Long không chịu. Tôi không nhớ chi tiết quê hương của người tự nhận cha kia ở đâu, nhưng tôi có khuyên cô Trang về nói với Long: Để biết sự thật, trước hết phải xác định ADN xem như thế nào. Nếu mà xác định đúng thì bố con nên nhận nhau, vì dù sao ông ấy cũng là cha đẻ của mình, ông không có lỗi khi để đứa con bị thất lạc. Một lần khác Trang xuống báo tin Long bỏ đi theo một người nào đó ở Vũng Tàu biệt tăm biệt tích... Sự bỏ đi này cũng giống như trước khi có cuộc tìm kiếm của nhân viên trong chương trình NCHCCCL. Họ đã tìm thấy Long cũng dưới Vũng Tàu, sau đó Long mới trở về với gia đình để gặp “bố nuôi”. Rồi Trang báo tin thêm người nhận cha của Long không muốn xác định ADN, ông ta nói: “Xác định ADN tốn 20 triệu, chi bằng tiền đó tao cho chúng mày!”. Tôi hơi lạ về những chuyện mà cháu Trang kể nhưng không muốn đi sâu tìm hiểu, và sự thể sau này như thế nào tôi cũng không được biết. Bẵng đi một thời gian dài sau đó, Trang lại đưa con xuống chơi, nói là Long đã về, nhưng không nói vì sao anh ta không cùng xuống. Lần ấy sắp nghỉ hè. Hai vợ chồng định đưa con ra thăm bố nuôi ở Thanh Hóa nhưng ngặt nỗi không có tiền đi lại. Lần nào cháu Trang đưa các cháu xuống tôi cũng cho các cháu tiền, lần ấy tôi cho Trang mượn đủ tiền tàu xe đi lại. 

Vào năm 2011, đột nhiên tôi nhận được một tập tài liệu đánh máy rất dày do anh Đinh Hữu Tấn gửi tới. Trong tập tài liệu có một bức thư viết tay của anh Tấn. Bức thư với nét chữ nguệch ngoạc, rời rạc. Hình như anh viết trong một trạng thái tinh thần không ổn. Chưa bao giờ anh viết cho tôi một bức thư với tâm trạng lạ lùng như thế, nó có vẻ day dứt và... thế nào ấy, rất lạ! Thậm chí tôi không nhận ra giọng văn thường ngày vốn dĩ rất dí dỏm tình cảm của anh nữa. Anh nói chuyện về đứa con nuôi, rồi chuyển sang nói những chuyện đâu đâu, rất lẫn lộn. Tôi không hiểu. Sau này tôi mới biết anh đã chớm bị một chứng bệnh mới: trầm uất, về sau nữa thì chuyển thành bại não rồi mất hẳn trí nhớ. Cuối thư đó anh nói: “Em xem mớ tài liệu này và khuyên anh nên như thế nào nhé”! Và anh ghi lại địa chỉ của người gửi tài liệu cùng với những số điện thoại cần tìm.

Tôi ngẩn ngơ một lúc rất lâu. Sau khi tĩnh tâm lại tôi mở tập tài liệu ra... Trời đất. Thì ra chương trình NCHCCCL lần thứ 11 ấy có vấn đề hết sức nghiêm trọng. Phạm Văn Long không phải là Võ Văn Phước! VTV đã hư cấu câu chuyện vốn dĩ rất đẹp đẽ của Đại tá Đinh Hữu Tấn, phù phép biến một Võ Văn Phước mạo danh, sum họp với người lính già hiền lành, chất phác, bao năm trời mòn mỏi mong gặp lại người con nuôi của mình y như thật, làm cho triệu triệu người trên đất nước này thổn thức xúc động rơi nước mắt cùng với những người thật trên trường quay hôm đó của VTV1. Một sự giả mạo lạnh lùng, làm tôi không thể nghĩ Đài Truyền hình Việt Nam lại có thể đang tâm dàn dựng để lừa dối người xem như thế.

Bức thư của người gửi tập tài liệu nói anh biết rất rõ đội tìm kiếm trong chương trình NCHCCCL gồm những ai và việc tìm kiếm con nuôi của Đại tá Đinh Hữu Tấn do Phan Hiếu đảm nhiệm. Một ngày nọ, Phan Hiếu báo đã tìm ra Võ Văn Phước được đổi tên là Phạm Văn Long ở ấp Phú Bưng, xã Phú Chanh, Tân Uyên, Bình Dương. Thế nhưng trong CÔNG TY TNHH TRUYỀN THÔNG SÀI GÒN BUỔI SÁNG, nơi đang hợp tác với Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình NCHCCCL, có những người khẳng định Phạm Văn Long không thể là Võ Văn Phước. Sau đó Công ty Truyền thông Sài Gòn Buổi sáng đã họp, xác định điều đó và đuổi việc Phan Hiếu. Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì chương trình NCHCCCL vẫn cứ tổ chức để Phạm Văn Long không phải con nuôi Đinh Hữu Tấn “sum họp” với ông. Bức xúc trước sự việc đó, một nhân viên trong đội tìm kiếm đã tự bỏ tiền ra tổ chức tìm cho ra Võ Văn Phước và đã tìm thấy qua rất nhiều lần đi lại hỏi han những người quanh khu vực Củ Chi.

Có một chi tiết khá thú vị. Bà Võ Thị Dơi mẹ đẻ của Võ Văn Phước (thường trú tại: thôn Phước Hữu, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu), sau khi xem chương trình NCHCCCL, đã lần mò tìm đến gia đình Long ở Bình Dương. Tại đây Phạm Văn Long thú nhận mình không phải là Võ Văn Phước, mà chỉ là bạn với Võ Văn Phước mà thôi. Cuối cùng Long đã dẫn bà Dơi đến nhà Phước. Thế là, khi người nhân viên điều tra tìm kiếm Võ Văn Phước, sau khi tìm đến các nhân chứng khác, cuối cùng anh tìm đến nhà Võ Văn Phước, thì hai mẹ con đã sum họp. Nhờ cuộc sum họp này Phước mới đủ căn cứ làm hộ khẩu và chứng minh nhân dân, chấm dứt 46 năm không có giấy tờ tùy thân. Sự kiện Phạm Văn Long thú nhận không phải Phước mà chỉ là người quen của Phước, càng chứng tỏ Long đã cố tình mạo danh để nhận con nuôi với người bố chưa từng gặp mình bao giờ. Trách chi, trong chương trình phát trực tiếp Long chỉ nhận mình mới hai, ba tuổi lúc gặp ông Tấn nên không biết gì cả, trong khi Đại tá Đinh Hữu Tấn nói gặp Phước khi ấy đã 6, 7 tuổi rồi.
 clip_image007
Gia đình Võ Văn Phước thật và ông bà Đinh Hữu Tấn

Cuối thư người nhân viên điều tra viết: “Thưa bác, nếu sức khỏe của bác tốt, xin mời bác vào Sài Gòn một chuyến để gặp lại Phước và gia đình Phước. Hoặc ngược lại, nếu được sự cho phép của bác, cháu sẽ bố trí cho vợ chồng Phước ra Thanh Hóa gặp bác vào dịp hè năm nay. Cháu xin lo tất cả kinh phí nếu bác vào Sài Gòn, hoặc gia đình Phước ra Thanh Hóa”.

Còn khuyên gì nữa, tôi nói với Đại tá trên điện thoại, hãy nhận lời để anh nhân viên điều tra tốt bụng hiếm có này bố trí cho các cháu ra thăm, sức khỏe của anh bây giờ sao đi lại được. Đại tá cười lớn: “Lúc thì không có đứa con nào, bây giờ thì có tới hai đứa. Thôi thì mình nhận cả hai, càng đông con càng vui!”.

Câu chuyện về chương trình NCHCCCL lần thứ 11 mà Thu Uyên đã phát sóng bất chấp sự phản đối của những người khác, Đại tá Đinh Hữu Tấn nói: “Dù sao tôi thấy những người làm chương trình cũng rất tận tình với mình. Họ đã cho tôi tiền đi lại, vào Sài Gòn được tiếp đón chu đáo, lại có chỗ ăn ở đàng hoàng, còn mong gì hơn thế! Trong lúc trước đây mình đi tìm kiếm, phải chi phí đi lại rất tốn kém, mà cũng không tìm ra. Còn... Phạm Văn Long không phải Võ Văn Phước là điều rất đáng tiếc. Nhưng, trong xã hội mà chúng ta đang sống, có biết bao nhiêu chuyện đáng tiếc như thế đang xảy ra hàng ngày hàng giờ ai mà đếm xuể. Có những chuyện còn tày đình hơn thế rất nhiều, ví dụ như nạn tham nhũng chẳng hạn. Chúng ta nói chống, chống triệt để, chống đến cùng, nhưng thực chất toàn là đấm bị bông cho vui thôi. Hay các Tập đoàn kinh tế Nhà nước, “những quả đấm thép” đang ngày càng “đấm” vào nền kinh tế đất nước thì sao? Cho nên tôi cũng không muốn bới móc chuyện này ra làm gì, mình mệt mỏi lắm rồi, để như vậy đi. Nhưng tôi tin chắc, cái gì xấu xa thì cuối cùng, dù bọc kỹ đến đâu cũng tự nó lòi ra thôi”.

Chiều ý anh, tôi cũng để sự việc khép lại. Tuy nhiên, tôi thấy thật tội cho Võ Văn Phước, người con nuôi chính thức của ông. Cuộc sống của Phước rất lận đận. Giá như không có Phạm Văn Long xen vào hay chỉ cần Phạm Văn Long chỉ dẫn cho những người tìm kiếm biết về Võ Văn Phước, thì câu chuyện đâu đi xa đến thế này (tất nhiên không thể kết luận đây là dụng ý của cá nhân Phạm Văn Long bởi nếu là dụng ý cá nhân thì Long đã không dễ dàng thú nhận với bà mẹ đẻ của Phước và dẫn bà đến nhà Phước, điều đó chứng tỏ lương tâm Long thật ra vẫn còn trong trắng; nhưng Long chịu sự chỉ đạo từ đâu để có chuyện đóng kịch “thế chân” Võ Văn Phước trên sân khấu truyền hình thì phải xác định thật rõ ràng). Và giá như Võ Văn Phước được đoàn tụ cùng cha nuôi chính thức của mình ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên do Đài Truyền hình bố trí, thì cuộc hội ngộ trọn vẹn biết bao nhiêu. Dù rằng Võ Văn Phước đã được gặp cha nuôi do kinh phí của nhân viên điều tra (vì cảm kích và bức xúc đã tự bỏ tiền túi) đài thọ, nhưng trong con mắt của những người chứng kiến chương trình giả mạo như ông Năm Nhuần, Huyện đội trưởng Huyện đội Củ Chi, Đại tá Dương Quốc Minh, Huyện đội phó và vợ ông là bà Huỳnh Thị Thảo, người có công nuôi Võ Văn Phước, không thể nói họ không bị tổn thất niềm tin rất nặng vào Đài Truyền hình Trung ương vì đã lừa đảo chính họ. Và nếu như, hàng chục triệu người xem truyền hình buổi phát sóng trực tiếp lần thứ 11 biết rằng đấy là một buổi sum họp ngụy tạo, chắc chắn họ vô cùng thất vọng về chương trình này và sẽ nghĩ rộng đến nhiều chương trình truyền hình khác nữa mà bao nhiêu con người hàng ngày để mắt trông vào, không hiểu có mấy phần là sự thật và mấy phần là dàn dựng ra, như người ta dàn dựng vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, bắt Chấn tập dượt cách giết người để quay phim lại trước khi xử án. Tôi lại lan man nghĩ ngợi, những việc phải dàn dựng do áp lực này khác từ đâu đó, thôi thì không nói, còn ở đây, có áp lực gì đâu mà phải lừa dối các bậc cao niên đáng kính như người lính già từng trải bao phen chinh chiến, chỉ huy Trung đoàn lập nhiều chiến công Đinh Hữu Tấn? Có thế do mối lợi tiền bạc nào đó được Nhà nước cấp cho theo quy định của chương trình này chăng? Nếu thế thì những người làm chương trình như Thu Uyên có trách nhiệm đến đâu? Bởi vì đây là một sự vô lương trắng trợn mà không hề biết rằng chính họ đã làm cho đạo đức xã hội bị xói mòn. Ai còn tin được phát ngôn thật giả ở những con người như thế nữa.


Mới đây, xem Chuyên mục phỏng vấn trên (VTV News) có bài “Trò chuyện với nhà báo Thu Uyên”. Một bạn đọc hỏi:Tôi đã theo dõi chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly và giờ là Trở về từ ký ức của nhà báo Thu Uyên. Tôi rất cảm động mỗi khi xem chị dẫn và tôi cảm nhận được cảm xúc thật của chị trong đó. Nhưng tôi có thắc mắc, như trong Như chưa hề có cuộc chia ly, chị đã khóc rất nhiều và có bao giờ chị mệt mỏi vì điều đó?”. Nhà báo Thu Uyên trả lời: “Khi thấy các gia đình được đoàn tụ, cảm xúc của chúng tôi rất lạ lùng, chúng tôi chảy nước mắt và cười, tôi nói như thế thay cho cả ê-kíp cả chương trình chúng tôi. Để làm nên một cuộc đoàn tụ, mất rất nhiều thời gian và trong cả quá trình đấy, chúng tôi vì có rất nhiều việc phải làm nên không phải khóc nhiều lắm dù đó là những câu chuyện rất bi thương. Mệt mỏi thì có mệt mỏi nhưng vì nghĩ không thể để những người gửi thư cho chương trình phải chờ đợi lâu và thất vọng nên chúng tôi rất cố gắng. Và thật kỳ lạ là chúng tôi càng cố gắng làm thì dường như càng có thêm sức.”

Không biết nên bình luận phần trả lời của nhà báo Thu Uyên như thế nào khi xem những chuyện giả như thật của chị trên truyền hình NCHCCCL lần thứ 11 năm ấy nhỉ?

Nếu tôi để sự việc này trôi qua, thì chính tôi cũng không thể thanh thản. Vì vậy, hôm nay tôi viết lại câu chuyện về Võ Văn Phước để khán giả truyền hình trên cả nước vốn rất yêu thích chương trình NCHCCCL của Đài truyền hình Việt Nam được biết sự thật. Tôi có tất cả các địa chỉ cần liên hệ. Nếu các bạn xem truyền hình cần giải đáp thắc mắc thì liên hệ với nhân vật chính Võ Văn Phước: Thường trú tại 137 Đoàn Minh Triết – Ấp Tháp – xã Thái Mỹ – huyện Củ Chi, ĐT: 0165 834 6104 sẽ được biết tất cả. Còn nếu như các bạn vẫn chưa hẳn tin, tôi xin cung cấp số điện thoại của bà Huỳnh Thị Thảo: 0837 950 560 người trực tiếp nuôi Phước từ nhỏ cùng bà Năm Sương: 0168 349 4548 để các bạn kiểm chứng thêm.

Nếu bạn nào cần xem lại chương trình NCHCCCL lần thứ 11 thì theo đường dẫn sau đây. Tuy nhiên chương trình có hai cuộc đoàn tụ. Cuộc đoàn tụ giữa Đại tá Đinh Hữu Tấn và Phạm Văn Long là phần 2 từ phút thứ 38 đến hết.  http://haylentieng.vn/tvshow/nhu-chua-he-co-cuoc-chia-ly-so-11/

SG, ngày 10-11-2013 
M.N. 
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
(bài đăng lại)
Nguồn: BVN

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

MỘT CHUYẾN ĐI


Lỗi hẹn mãi, cuối cùng tôi đã thực hiện được chuyến đi thăm lại các di tích lịch sử nằm rải rác ở các vùng đất rộng lớn của xứ Thanh.

Xe xuất phát từ sáng sớm. Điểm đến đầu tiên là Thành Nhà Hồ

Thành Tây Đô, còn có tên gọi khác là Thành nhà Hồ. Được Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397, đời vua Trần Thuận Tông. Trải qua hơn 6 thế kỷ, thành Tây Đô vẫn còn khá nguyên vẹn. Cho đến hôm nay, kỹ thuật xây dựng thành vẫn còn nhiều bí ẩn.

Các cổng thành được thiết kế hình chữ U, những phiến đá tạo vòm xếp hình múi cam chồng khít không dùng chất kết dính

Thành Tây Đô được các nhà khoa học nhận định là một trong số ít những thành đá còn sót lại trên thế giới. Ở Đông Nam Á đây là tòa thành bằng đá có giá trị nhất, độc đáo nhất và duy nhất còn lại.





Rời thành Nhà Hồ, ngược lên hướng Tây Bắc  là về với di tích Lam Kinh

Được xây dựng bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thành Lam Kinh còn có tên là Tây Kinh. Nơi đây có lăng Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng mô tả ngắn gọn, cô đọng toàn bộ sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi biên soạn. Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với bản anh hùng ca đánh đuổi giặc Minh_Trung quốc bằng cuộc khởi nghũa Lam sơn thu giang sơn về một mối. 
 Lam Kinh nằm trên đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc Việt Nam hai đời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê)


 Điểm dừng chân cuối cùng là khu du lịch Suối Cá Thần.

Dài chừng 15m, sâu khoảng 40 - 50 cm, suối Ngọc (xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa) là nơi tập trung của đàn cá hàng nghìn con. Hàng ngày, đều đặn như có hẹn, 5 - 6 giờ sáng cá nối đuôi nhau chui từ hốc đá ra ngoài suối và 18 - 18h30 chúng lại tự động bơi vào, tuyệt nhiên không còn con cá nào lởn vởn ngoài suối cá thần nữa.
Đàn cá này to nhỏ đủ cỡ, trọng lượng mỗi con khoảng từ 200g đến 5, 7kg. Đa phần chúng có vẩy màu xanh đen với sáu vây. Vây, môi và mang cá đỏ chót, mắt đen lồi, dọc hai bên mắt (mang cá) có hai sọc đen dài nhìn như đuôi mắt.
Nhìn hình dáng bên ngoài, loài cá này có vẻ hơi kỳ quái, không giống với những loại cá thông thường. Khách du lịch và những người bán hàng xung quanh suối Ngọc thường nói đây là cá chép nhưng dân bản địa gọi là cá dốc (cá dóc) có họ hàng với cá dốc sông Mã.

 Tạm biệt Cẩm thuỷ, tôi về đến thành phố đã là 7 h tối. Kết thúc một ngày với quãng đường khoảng 300 km, mệt nhưng vui.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

MỘT CHÚT VỚI NHẬT NGÂN


Những năm gần đây trong đời sống âm nhạc Việt nam hay xảy ra chuyện tranh chấp bản quyền tác phẩm làm tốn không ít giấy mực của báo giới và cả những cuộc "khẩu chiến" của người trong cuộc. Trường hợp của nhạc sĩ Nhật Ngân với ca khúc TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG cũng nằm trong số đó.

Nhạc sĩ Nhật Ngân quê Hoàng kim-Hoàng hóa -Thanh hóa. Từ nhỏ theo cha là một công chức  rong ruổi suốt dải đất miền Trung. Ông sống nhiều ở Đà nẵng và coi Quảng nam-Đà nẵng là quê hương thứ hai của mình.

Sau này ông đã trả lời với giới truyền thông rằng: "tôi sáng tác ca khúc TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG là tác phẩm đầu tay sau mối tình đầu tan vỡ. Lúc đó(năm 1960) tôi chưa có danh phận nên gửi  tác phẩm vô Sài gòn nhờ nhạc sĩ Y-Vân cho phát hành. Nhạc sĩ Y-Vân có sửa đôi chút lời và khi phát hành thì đứng tên Nhật Ngân - Y Vũ".

Nhạc sĩ Nhật Ngân - 1942/2012

Theo thời gian, Nhật Ngân còn nổi tiếng với nhiều ca khúc như:

Đêm nay ai đưa em về

Ngày vui qua mau

Xuân này con không về

Qua cơn mê

Một mai giã từ vũ khí

Tôi thích cái chất "bụi " trong con người  ông: thích những ca từ mộc mạc gần gũi nhưng đủ để " cắt  vào da vào thịt" người nghe của ông. Với ca khúc XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ ông đã nhắn nhủ nhiều điều đến những người lính ở cả hai chiến tuyến, cùng mang dòng máu Việt,  cầm súng bắn vào nhau trong một cuộc chiến - một cuộc chiến lẽ ra không đáng có.

Khi trung tâm ASIA  tổ chức đêm nhạc vinh danh nhạc sĩ Anh Bằng (năm 2009) ông vẫn còn góp mặt, trông vẫn phong độ lắm .Vâỵ mà  ông đã ra đi mãi mãi  vào ngày 23/1/2012 tai Califonia -  Hoa Kỳ.

Có lẽ cũng không cần bàn cãi về bản quyền nữa bởi một điều : hễ cứ nghe TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG là người ta nhớ đến Nhật Ngân rồi. 

 

Nghe lại ca khúc tôi đưa em sang sông qua tiếng hát Khánh Ly

 


Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

HOÀI NIỆM NHỮNG DÒNG SÔNG

                  Quê hương ai cũng có một dòng sông.....


Suốt chiều dài dải đất Việt, ở đâu ta cũng bắt gặp những dòng sông. Sông lớn,sông nhỏ, khe, ngòi, suối, kênh rạch len lỏi khắp mọi nơi, tắm mát và tô điểm cho mọi vùng quê, làng mạc. Mỗi con sông đều mang dáng vẻ riêng có, vì thế tôi cứ chiêm nghiệm một điều rằng dáng vẻ riêng có ấy sẽ "vận" vào cuộc đời mỗi con người như một tính cách khác biệt theo những cách khác nhau.
Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Mã - có lẽ do tính chất hung dữ của dòng chảy mà nó có tên sông Mã chăng! Ngày còn bé, có lần theo Mẹ ra sông giặt đồ, mải mê nhìn theo đàn cá nhỏ bơi lượn dưới đáy sông trong vắt, tôi để trôi mất quần áo mang theo. Bà mắng:"lãng mạn quá sau này khổ đấy con ạ".

Mùa mưa lũ năm 71, nước từ thượng nguồn đổ về dâng cao,dòng sông mênh mang cuộn chảy cướp đi một người bạn tôi khi theo cha ra sông vớt củi. Tim tôi se thắt lại , lớp tôi vắng đi một người!

Sau này lớn lên tôi có dịp đi nhiều nơi, gặp gỡ và giao cảm với những dòng sông khác nhau trong những tâm trạng khác nhau. Lòng xốn xang mỗi khi qua phà sông Gianh của miền thùy dương cát trắng Quảng bình hay bâng khuâng xao xuyến với sông Hương núi Ngự và tự do thả hồn trước bao la sông nước miền tây Nam bộ. Ở đâu cũng để lại trong tôi những kỷ niệm , những hoài cảm không dễ gì quên.

Thời gian trôi đi, những dòng sông tươi đẹp của một thời giờ đây đã mang một khuôn mặt khác - khuôn mặt nham nhở đầy thương tích khiến ta chạnh lòng. Nhiều dòng sông đã ô nhiễm nặng nề; dòng chảy bị thu hẹp lại; rừng đầu nguồn bị chặt phá; nạn khai thác cát sỏi, nổ mìn bắt cá bừa bãi. Rồi những dự án thủy điện thiếu tầm nhìn, có những dự án "đắp chiếu" hay"đốt tiền" của dân cứ nhan nhản khắp nơi như đại dịch.

Dòng sông từ bao đời nay vẫn thủy chung với con người. Sông không biết dối lừa, không biết mưu mô xảo trá, không biết hận thù nhưng sông biết giận biết hờn. Sự tàn ác của con người rồi đến lúc nào đấy sẽ phải trả giá. Lúc đó Sông sẽ nhấn chìm đi tất cả...
Có khi nào trong ta ưu phiền hay căng thẳng trước áp lực công việc, cuộc sống, tôi hay bạn hãy trở về để trải lòng với những dòng sông quê. Ở đó có cây đa, bến nước, có con đò cắm sào đứng đợi; có bãi ngô xanh mướt dọc đôi bờ và có cả tuổi thơ lưu dấu ngày nào. Lúc đó dòng sông quê sẽ thì thầm với bạn.
                                      
                                                                                                                                              Viết tặng Mẹ

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

" HỒNG HOA TRANG " NGÀY ẤY CÓ CÒN HAY KHÔNG ?


Ở gần trường mình có một quán cafe mang tên HỒNG HOA TRANG . Lúc đó HỒNG HOA TRANG với cách bài trí và qui mô kinh doanh đã là đẳng cấp rồi. Bước chân vào HỒNG HOA TRANG là điều xa xỉ với bọn mình - học sinh sinh viên lấy đâu ra tiền, đang tuổi "sức dài vai rộng" mà lúc nào cũng đói bụng ! Mình nhớ mỗi tháng được nhận học bổng là 24 đồng nên chỉ mong đến kỳ nhận, có tiền là rủ nhau ra HỒNG HOA TRANG để " xả láng " một chút và nghe trộm nhạc tiền chiến. Phải gọi là "NGHE TRỘM" vì thời ấy nhạc tiền chiến bị cấm đoán đến tội nghiệp. Sau này người ta nhìn nhận ra vấn đề, trả lại giá trị đích thực của nó, dòng nhạc này lại hồi sinh mãnh liệt, đươc coi là những ca khúc đi cùng năm tháng. Riêng tôi cho rằng nhạc tiền chiến hướng con người ta sống nhân văn hơn, xích lại gần nhau hơn.
Lâu lắm rồi chưa về lại nơi ấy, không biết HỒNG HOA TRANG có còn hay không ?

Mình tải mấy ca khúc đã nằm trong "bộ nhớ" mình để các bạn ôn lại nhé!



Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

NHỚ "MÀU TÍM HOA SIM"


Hồi đó là những năm đầu thập niên 80, lớp TL6A chúng tôi đi thực tế một tháng tại Long Mỹ. Nơi đây là thung lũng nằm lọt thỏm giữa một vùng đồi núi; giao thông đi lại rất khó khăn, xa khu dân cư và gần như cách biệt với thế giới bên ngoài . Tôi vẫn thường nói với Vĩnh Thông:"Long Mỹ như một địa ngục trần gian".
"Đại bản doanh" nơi chúng tôi ở là những dãy nhà còn sơ sài; điện đóm  thì  không,  chỉ có chiếc máy phát điện  nhỏ đủ để xem ti-vi đen trắng; muỗi thì nhiều vô kể. Khó khăn lớn nhất là chuyện nước cho sinh hoạt hàng ngày. Giờ nghĩ lại mà thấy thương cho các bạn nữ đã trải qua những tháng ngày khó khăn thiếu thốn ấy.

Kỷ niệm đẹp nhất với tôi ở Long Mỹ là những buổi chiều khi hoàng hôn xuống được thả bộ một mình giữa không gian tĩnh mịch của những đồi hoa sim nối tiếp nhau tưởng như bất tận. Hoa sim tím ngắt một màu, cánh hoa mỏng manh lay nhẹ trong gió chiều. Lúc đó trong tôi lại vang lên giai điệu "...những đồi hoa sim ơi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt...". Rất nhiều người trong chúng ta thuộc thế hệ U50 đã không dưới một lần được nghe giai điệu ca khúc "màu tím hoa sim", đều cảm thấy bâng khuâng nao lòng nhưng ít ai biết được số phận nghiệt ngã của tác giả ca khúc ấy.

HANG TỪ THỨC
Ông chính là nhà thơ Hữu Loan, cùng thời của những Xuân Diệu, Chế Lan Viên. Ông sáng tác nhiều  nhưng tác phẩm để đời là bài "màu tím hoa sim". Quê ông ở Nga sơn-Thanh hoá; nơi có hang động Từ Thức gắn liền với huyền thoại "Từ Thức gặp Tiên" đã lưu truyền từ nghìn đời nay. Những năm 60 của thế kỷ trước, "người ta" đánh "Nhân Văn Giai Phẩm", quy kết ông có tư tưởng phản động (thật nực cười ). Ông phải từ bỏ nghề dạy học và sự nghiệp văn đàn về quê sống trong sự quản thúc của chính quyền. Vì cuộc sống mưu sinh ông trở thành người thợ khuân vác đá để sống qua ngày. Ông mất năm 2010 trong quạnh hiu. Năm 2004 công ty truyền thông đa phương tiện VTB đã mua lại bản quyền bài "màu tím hoa sim"với giá 100 triệu đồng
 Nhiều lần về quê tôi đã có dịp ghé thăm động Từ Thức  nhưng lại vô tình hững hờ với số phận của một con người như ông. Tưởng niệm 3 năm ngày mất của nhà thơ. ở nơi xa tôi viết bài này thay cho một nén nhang  trước vong linh của thi sĩ.                                        

                                                               VIẾT TRƯỚC CƠN BÃO HAIYAN


 LỜI TỰ THUẬT CỦA HỮU LOAN
VỀ BÀI THƠ " MÀU TÍM HOA SIM "

"Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và ... Tôi - Nguyễn Hữu Loan.


Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ' Em chào thầy ạ'. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một 'bà cụ non'. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn ; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ... 
Có lần tôi kể chuyện « bà cụ non » ít nói cho 2 người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành ... Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý : « mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu » Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi ... 
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi :
- Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
- Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ : « Ngọt quá ».
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế !
Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì ... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo !


CỐ NHÀ THƠ HỮU LOAN


Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi ... Tôi quay đầu nhìn lại ... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa ... 
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ... 

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp ... 
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sơ,ï vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm « soạn kịch bản ».
Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là :'yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả'. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay ... lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết !
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại ... Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối ! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi …

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn ... Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra :
alt
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh ... 
... Tôi về không gặp nàng ...
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá ... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang « ở nhà trông vườn » ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ « quê đẻ của tôi đấy » thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
alt

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi' hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi'. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá ! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi !
Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng ... Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1 tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào ? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được ! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi ... Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi ! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm !

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.
Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no ... Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai, 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa !
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.

Năm 1988, tôi « tái xuất giang hồ » sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia « lộc » cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán...".
Nhà Thơ HỮU LOAN
                                      

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

TẢN MẠN CHUYỆN BUỒN THÁNG 10

 Tháng 10 này đầy ắp những chuyện buồn, mà toàn những chuyện liên quan đến chết chóc, đến số phận con người. Vụ nổ pháo hoa ở một nhà máy quân đội làm chết và bị thương hàng 100 người chưa kịp lắng xuống thì lại đến chuyện lùm xùm trong ngành Y tế với những vụ tiêm vắc-xin làm chết trẻ em, làm chết thai phụ và mới đây là việc bác sĩ làm chết bệnh nhân ném xác xuống sông Hồng, Chưa kể tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng hàng trăm người mỗi ngày thì việc vụ án giết người ở Bắc giang bị xử oan sai suốt 10 năm trời đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về đạo đức xuống cấp và sự yếu kém  của các cơ quan công quyền nhà nước hiện nay.
Buồn hơn cả là tháng 10 này chứng kiến sự ra đi về cõi vĩnh hằng của Đại tương Võ Nguyên Giáp. Bao nhiêu giot nước mắt đã lăn trên khoé mắt của hàng triệu người Việt khắp mọi miền tổ quốc tiếc thương cho tài năng, đức độ của một vị tướng mẫu mực và lừng danh.
Chìm trong nỗi buồn đau thương này tôi lại tìm về miền đất Lệ thuỷ-Quảng bình. Chợt nhớ đại gia đình Ngô đình Diệm cũng gốc gác Lệ thuỷ (xã Phong thuỷ ngay cạnh xã Lộc thuỷ của Đại tướng). Hai con người nổi tiếng ở hai chiến tuyến khác nhau nhưng chắc chắn một điều là tuổi ấu thơ của họ đã lớn lên bên dòng sông Kiến giang hiền hoà này-nơi đầy ắp tiếng hò nhặt khoan và mái chèo khua nhẹ mỗi buổi sáng sớm.
Đang miên man với những cảm xúc về vùng đất Lệ thuỷ, tôi lại nhớ đến một số người bạn cùng học lớp với tôi cách đây 32 năm, cũng quê Lệ thuỷ Quảng bình. Lớp TL 6A của tôi  đã lùi xa 32 năm rồi đó chưa một lần gặp lại. Những ai còn,ai mất, ai thành đạt, ai bất hạnh là câu hỏi lớn trong tôi. Thời gian quá lâu, nhiều người tôi đã quên tên quên mặt. Chỉ nhớ những Thông, Bính, Định, Hảo, An, Hoa Hiền, Trung, Hùng, Liên , Chính. Rất may cho tôi là qua một thông tin nhỏ nhoi từ Quy nhơn tôi dã kết nối được với Hảo. Tôi nói chuyện nhiều với Hảo-cô bạn cùng đoàn thực tập những năm cuối khoá. Qua H tôi lại kêt nối dược với mấy người bạn nữa. Bao nhiêu kỷ niệm vui buồn được dịp bộc bạch như không bao giờ muốn dứt ra. Tôi cũng liên lạc được với H.T-một thời trai trẻ, sôi nổi  và chân thành đã trôi qua thật dịu êm.
Hoá ra trong những ngày buồn của tháng 10 vẫn còn một góc nhỏ cho niềm vui của tôi khi tìm lại được các bạn. Hy vọng một ngày gần nhất chúng ta sẽ gặp nhau tay bắt mặt mừng
                                                                                                
                                                           Hà Nội những ngày cuối Thu