
Các nhà khoa học trên thế giới khi nghiên cứu các mẫu hóa thạch đã phát hiện ra rằng : tổ tiên của loài ngựa ngày nay đã xuất hiện từ rất lâu, khoảng 54 triệu năm. Từ xa xưa, loài ngựa đã được con người thuần dưỡng và trở thành vật nuôi gần gũi và hữu ích cho cuộc sống con người. Theo thời gian, mối liên hệ gần gũi đó ngày càng phát triển , gắn bó, đa dạng mà hình thành nên những câu tục ngữ, thành ngữ có dùng hình ảnh con ngựa như một ẩn dụ nghệ thuật để nói về con người và cuộc sống.
Nhân dịp xuân Giáp ngọ, LANGDU tôi ngồi uống rượu một mình và sưu tập những câu thành ngữ mà cổ nhân để lại và sơ giải theo hiểu biết của riêng tôi.
Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ : Chỉ sự đoàn kết, đồng lòng của giống nòi
Đường xa mới biết ngựa hay : Khẳng định sự bền bỉ ,dẻo dai.
Miệng chó, vó ngựa : Nghĩa đen là nơi nguy hiểm do bản năng tự vệ của loài vật. Nghĩa bóng là tránh xa nơi nhạy cảm ... kẻo " tai bay vạ gió".
Thẳng như ruột ngựa: chỉ người bộc trực ,thẳng thắn.\
Ngựa non háu đá : Chỉ sự manh động thiếu cân nhắc.
Ngựa quen đường cũ : Thói quen tật xấu rất khó bỏ.
Đầu trâu, mặt ngựa : Dạng người hung hăng, côn đồ.
Voi giày, ngựa xéo : Một hình thức tra tấn thời Trung cổ.
Thay ngựa giữa dòng : Thường dùng trong lĩnh vực hoạt động chính trị.
Ngã ngựa : Là cách nói tránh về yếu sinh lý.
Lên xe, xuống ngựa : Chỉ cuộc sống xa hoa , quý tộc.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã : Những kẻ xấu thường tụ tập với nhau.
Chiêu binh , luyện mã : tập hợp quân sĩ cho một cuộc chiến.
Đơn thương, độc mã : Chỉ cuộc chiến không cân sức.
Thiên binh, vạn mã : chỉ lực lượng hùng hậu.
Da ngựa bọc thây : Chỉ sự chết chóc của quân sĩ trên chiến trường.
Ngoài những câu thành ngữ trên, chắc chắn vẫn còn sót nhiều. Hy vọng mọi người bổ sung thêm để chúng ta có một năm NGỰA thêm thi vị.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét