Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

CHIA SẺ CÙNG CÁNH MÀY RÂU

LD: CÁNH MÀY RÂU THƯỜNG HAY NỬA ĐÙA, NỬA THẬT KIỂU NHƯ GHEN TỊ  RẰNG PHỤ NỮ CÓ NHIỀU NGÀY LỄ NÀY NỌ, RẰNG MỐI LIÊN HỆ TÌNH CẢM GIỮA CON CÁI VÀ NGƯỜI MẸ SÂU SẮC HƠN... CÁC BẠN HÃY LẮNG NGHE NHỮNG TÂM SỰ SAU ĐÂY CỦA MỘT NGƯỜI CHÍNH HIỆU LÀ...PHỤ NỮ (XIN ĐƯỢC GIẤU TÊN) ĐỂ CÓ THỂ AN ỦI ĐƯỢC PHẦN NÀO.

Đàn ông thường ít khi bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài. Phụ nữ khi buồn có thể dễ dàng òa khóc nhưng đàn ông lại chỉ biết giấu nước mắt vào trong. Đàn ông cũng không dễ dàng bộc lộ tình yêu thương của mình. Mỗi khi xa nhà con chỉ nhớ mẹ, có lẽ vì trong thâm tâm con, mẹ là người mang nặng đẻ đau, mẹ luôn ân cần chăm sóc con, mẹ không ngần ngại nói rằng mẹ yêu con và mẹ sẽ khóc vì nhớ con mỗi khi con xa mẹ. Có lần con đã nói với mẹ rằng con yêu cả bố và mẹ nhưng mỗi khi đi xa con lại chỉ nhớ có mỗi mẹ thôi. Mẹ trách con: “Bố ở nhà lo lắng cho từng li từng tí mà đi xa lại không nhớ bố”. Tình yêu con dành cho bố giống như những cơn mưa dầm thấm lâu, mỗi ngày từng chút, từng chút một con lại thấy yêu bố và nhớ bố nhiều hơn. Đó là khi con đã khôn lớn và nhận thức được nhiều điều, cũng là lúc con không còn cơ hội về thăm bố mẹ thường xuyên nữa.

Nếu như mẹ có thể dễ dàng ôm chúng con vào lòng, hôn lên đôi má bầu bĩnh và nói: “Mẹ yêu các con nhiều” thì bố lại không làm vậy. Con nhớ hồi nhỏ có lần em kể đêm ngủ bố cứ hôn trộm em, râu của bố cắm vào khuôn mặt búng sữa của nó làm nó tỉnh giấc. Lúc ấy mẹ cười bảo: “Bố yêu con nên mới hôn con đấy”. Gia đình cũng có những khi cơm không lành, canh chẳng ngọt, những khi bố mẹ xảy ra “chiến tranh” cả hai chị em đều về phe mẹ, để bố ngồi lặng lẽ một mình. Con thấy mắt bố hơi ươn ướt, khi đó con mới hiểu không phải lúc nào bố cũng tỏ ra cứng rắn như con vẫn nghĩ, cũng có những khi bố thấy chạnh lòng.


Ngày của cha

Con đi học xa từ bé, nỗi nhớ gia đình luôn ngự trị trong con. Hình ảnh của mẹ như một dòng suối mát lành chảy suốt các trang viết của con nhưng con chưa một bài viết nào dành riêng cho bố. Sắp đến Ngày của cha, những cảm xúc và kỉ niệm về bố cứ ngập dần đầy trong tâm trí con. Thỉnh thoảng con đi ăn sáng gặp một người cha hay đưa con gái đi ăn, nhìn cái cách ông bố trẻ chăm sóc cho con gái mình con lại nhớ đến hình ảnh  hai bố con mình của những tháng năm về trước. Thuở con còn bé nhỏ ở trên lưng bố rắn rỏi, vững   chãi. Tưởng như chớp mắt một cái thôi, con đã lớn ngần này rồi.
Mỗi khi nghe ca khúc “Papa” con lại thấy ngậm ngùi.

“Oh papa, tháng năm qua nay cha đã già,
Mong manh nghiêng nghiêng một bóng cả,
Con chẳng làm được gì cho cha”.

Mỗi lần về thăm nhà, lại thấy tóc bố bạc thêm một ít mà “con chẳng làm được gì cho cha”.

Con nhớ hồi còn bé, con có thể ngồi hàng giờ nghe bố nói, bố giống như một chân trời kiến thức vậy. Sau này khi con đi học, bầu trời kiến thức của con ngày càng rộng mở hơn. Học được dăm ba chữ đã nghĩ là mình tài giỏi, về tranh luận với bố và trách bố sao mà lạc hậu. Bố không giận, không quát mắng con mà chỉ lặng lẽ nói: “Con hơn cha là nhà có phúc. Đời bố đã thiệt thòi về con đường học vấn, giờ bố chỉ mong có thể hi sinh đời bố để củng cố đời con”. Lúc đó con đã buồn và rất hối hận, cảm thấy mình như một con ngựa non háu đá.

Người ta thường nói con gái thường thân thiết với bố hơn còn con trai lại hợp với mẹ. Ở con cũng có nhiều điểm tương đồng với bố hơn, về sở thích, về tính cách. Con biết tình yêu bố mẹ dành cho hai chị em con là như nhau nhưng vì con là con gái, bố thường bênh vực con nhiều hơn. Từ bé đến giờ bố chưa một lần đánh con, bố nói rằng không bao giờ đánh phụ nữ, mà con gái chân yếu tay mềm, lớn lên theo chồng chẳng được ở cùng bố mẹ nhiều. Thương con, bố chỉ dạy bảo mỗi khi con sai mà không cần dùng đến roi vọt. Con nhớ hồi nhỏ mỗi lần con hư, bị mẹ đánh đòn, bố luôn là người bênh vực cho con.
Trong mắt của con, bố như một cái cây vững chắc và rợp bóng mát, luôn che chở cho mẹ con con. “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”. Là người trụ cột trong gia đình, bố có nhiều thứ phải lo toan. Có những hôm đi làm về mệt, mẹ ăn cơm rồi đi ngủ sớm, nhưng con vẫn thấy bố thức rất khuya, ngồi trầm ngâm bên ấm trà đặc. Con không biết trà làm bố không ngủ được hay những lo toan khiến bố không ngủ được. Con vô tư đến mức vô tâm. Con đã không biết bố đã vất vả, nhọc nhằn như thế nào. Những gánh nặng trên đôi vai gầy của bố chưa bao giờ con biết. “Mang cả tấm thân gầy cha che chở cho con” – theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nhớ năm ấy vào một đêm mưa bão, cây cối, nhà cửa bị quật ngã đổ rạp, bố đã dùng cả tấm thân của mình để che chắn cho mẹ và em khỏi cái cột, cái kèo rơi xuống.

Con đi học xa, bố dặn con nếu có ai bắt nạt thì cứ gọi điện về cho bố. Dù là Hà Nội hay bất cứ đâu bố cũng sẽ đến để bảo vệ cho con. Hồi nhỏ khi con mới tập đi, ngã thì có bố nâng, mỏi chân sẽ có bố cõng. Mỗi khi trời mưa con lại nhớ đến bài hát: “Em ơi em, dừng lại nào. Này đằng kia có mưa! Trông kia xem đường ngập bùn, trượt chân em biết kêu ai? Ngã khóc em gọi: “Bố ơi!”. Giờ đây con chẳng thế nào gọi bố nâng con đứng dậy mỗi khi vấp ngã. Con lớn rồi con phải tự bước đi. Ngã thì đứng dậy và đi tiếp. Không có bố ở bên cạnh nâng đỡ nhưng bố mãi mãi là người bảo vệ, chở che cho tâm hồn dễ thương tổn của con. Mỗi khi mệt mỏi, tâm không an, chỉ cần gọi điện về cho bố, khi giọng nói ấm áp của bố vang lên con lại thấy lòng bình yên trở lại. Không có bố bên cạnh, con vẫn một mình đi về phía mưa.
Con là một đứa con gái vụng về đủ thứ. Hồi mới lớn mẹ bắt con tập nấu ăn nhưng con không thể nấu nổi một bữa cơm ngon. Mẹ thường mắng con vụng về quá sau này không lấy được chồng hoặc người ta đón về cửa trước sẽ rước ra cửa sau. Mẹ so sánh con với “con người ta”. Lòng tự ái trẻ con dâng lên, con đã giận dỗi mẹ. Lúc đó bố chỉ nhẹ nhàng nói: “Học nấu ăn không phải để phục vụ ai mà phục vụ bản thân mình trước tiên con à”. Sau này khi đi học xa con mới thấu hiểu những gì bố mẹ đã dạy con. Giờ đây con đã biết cách tự chăm sóc cho bản thân mình. Con chỉ buồn là chưa nấu được cho bố mẹ một bữa cơm ngon. Con hiểu chỉ có bố mẹ mới chấp nhận ăn cơm bữa sống, bữa khê, bát canh khi mặn, khi nhạt, luôn động viên con để con có thể nấu được một bữa ăn tử tế.

Con đi học đại học ở một thành phố xa xôi, lần đầu tiên bố nói rằng bố rất nhớ con, bố đã thôi không còn giấu cảm xúc ở trong lòng nữa. Con nhớ mỗi lần tiễn con đi ở bến tàu, bến xe, bố sẽ lặng lẽ đứng nhìn cho đến khi chuyến xe đi khuất. Qua cặp kính, con vẫn cảm thấy mắt bố hình như ươn ướt. Mặc dù ở nhà bố đã dặn con cặn kẽ đủ điều mà tàu vừa lăn bánh được một lúc bố đã gọi điện cho con. Bố nói bố đang ngồi nghỉ chân ở đỉnh dốc, con mới đi thôi mà bố đã thấy nhớ quá. Nhắm mắt lại, con tưởng tượng ra hình ảnh bố nhỏ bé nhưng mạnh mẽ và rắn rỏi trên một đỉnh đồi đầy gió.

Bố ơi, con bây giờ đã lớn, con sẽ phải tự bước đi tới những bến bờ xa xôi của định mệnh. Nhưng bố vẫn luôn là bóng mát chở che cho tâm hồn con. Ngày sinh nhật con, bố nhớ đến từng giây từng khắc. Vậy mà suốt bao nhiêu năm qua, sinh nhật bố chưa một lần con nhớ. Bố ở quê làm việc quanh năm suốt tháng, không bao giờ biết đến ngày chủ nhật, càng không để ý đến ngày sinh nhật của mình. Vậy mà năm nào cũng thế, cứ đến sinh nhật con là bố lại nhắn tin hoặc gọi điện chúc cho con những điều tốt đẹp. Có lẽ bố cũng chưa từng nghe nói đến Ngày của cha nhưng con vẫn muốn nhân dịp này để gửi đến bố những lời cảm ơn. Cảm ơn bố vì đã sinh ra con. Cảm ơn bố đã luôn bảo vệ và yêu thương con suốt cuộc đời này. Giờ đây con ở xa, con chẳng mong gì hơn là bố mẹ luôn khỏe mạnh, hạnh phúc để con có thể yên tâm. Bàn chân con dẫu có đi xa đến đâu, con vẫn biết có một nơi thương nhớ để quay về.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

HEO MAY THU VỀ


 

Theo vòng quay của Đất-Trời, mùa Thu đã đến từ cả tháng nay.  Nhưng đấy là lúc giao mùa, cái nắng cuối hè vẫn như thiêu như đốt, dù những cánh Phượng đã thôi rơi, cả tiếng ve rầu rĩ suốt mùa hè đã ngưng hẳn.

Vẫn biết rằng: mưa  giăng, lá đổ, nắng dát vàng là món quà muôn thuở của mùa thu. Nhưng chỉ khi những cơn gió heo may tràn về mới cảm nhận mùa thu một cách đầy đủ nhất. 
Gió heo may "hiền" lắm, không dữ dằn tê tái như gió mùa đông bắc thổi qua mỗi chiều  đông. Gió len lỏi khắp mọi nơi, mọi chốn, mang không khí se lạnh đủ làm người ta thức giấc lúc nửa đêm về sáng khi mơn man trên da thịt con người.
 

Hình như ai cũng yêu mùa thu. Có lẽ vậy!  Thu sang, lòng người  trở nên bao dung hơn, quảng đại hơn. Những kỷ niệm ngọt ngào, những cảm xúc xao xuyến, bồi hồi của tuổi thơ đi qua những mùa thu cũng trỗi dậy mạnh mẽ. Ở cuối con đường lả tả lá vàng rơi,có ai chờ đợi ai sau cơn mưa vừa ngớt?
 
Thu ơi! Ta đợi thu từ cuối hè phượng rơi.

Bỗng dưng muốn biến thành ngọn gió heo may để ta hòa mình  vào với mùa thu.

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

ĐÁM TANG BÀ NỘI TÔI, MỘT NGHỊCH LÝ TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

LÊ QUANG VINH

LD:  Nhà văn, nhà báo Lê Quang Vinh - một cây bút đát Quảng Trạch, Quảng Bình vừa viết một câu chuyện có thật về những người ruột thịt trong gia đình liên quan đến thời kỳ CCRĐ.





Lê Quang Vinh viết: “Hàng vạn sinh linh, trong đó có những người con ưu tú của dân tộc bị hành hạ, tiêu diệt. Làng tôi có ông Nghè Cơ (tên thật Nguyễn Bá Ky - Bí danh hoạt động CM là "Vĩnh Khang") – Nhạc phụ của nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên bị “Cải cách ruộng đất” quy “địa chủ”, “phản động”, “cường hào gian ác” và bị xử bắn ngay nơi chỗ Mệ Nội tôi nằm là bãi Hói Nại. Cách đây 2 năm, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình đã có Quyết định công nhận "Cán bộ lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa" cho ông Nghè (Liệt sĩ, Đảng viên Đảng Lao động – nay là ĐCS). Bi kịch trong “Cải cách ruộng đất” đã thành bi kịch toàn xã hội miền Bắc thời đó . Mỗi gia đình vốn tử tế bị nó làm cho vô luân, hư nát, tệ hại  Tôi kể lại cái chết và đám tang Mệ Nội ( bà nội) tôi, như một sự cảnh tỉnh: giặc Tàu đã dùng người Việt tiêu diệt người Việt, xã hội VN vô cùng tài giỏi. Tổn hại của “Cải cách ruộng đất” lớn hơn rất nhiều lần những tổn hại trong kháng chiến chống Pháp về người và của, đặc biệt luân thường đạo lý và xã hội. Hậu quả bi thương của hàng triệu gia đình còn nguyên đó cho tới hôm nay. Chúng ta không chỉ đấu tranh kiên cường giành lại Hoàng Sa bảo vệ Trường Sa; chúng ta cần tránh xa, cảnh giác cao hơn những âm mưu “diễn biến hòa bình” từ những người “Cộng sản” Tàu
Đó chính là “Lực lượng thù địch” đích thực đối với dân tộc VN và những người CSVN. Tôi thấy ở lĩnh vực này, nhân dân đã tiên phong, tĩnh táo và cảnh giác hơn các những người lãnh đạo”.  
Xin giới thiệu bài bài viết của nhà báo Lê Quang Vinh về câu chuyện bi thương này để bạn đọc cùng chia sẻ.
#
Gần giữa tháng 3 ta rồi, nhưng thời tiết ở quê vẫn còn mát mẻ. Khoảng hơn 4 giờ chiều, ngày13/3/Bính Thân (23/4/1956), tôi đon đả từ chợ Trường về nhà Mệ Nội (Chợ Hòa Ninh khi xưa nằm bên cạnh trường học do ông Xu Phiến xây cất từ thiện cho làng nên thường gọi là “Chợ Trường”). Không biết trời đất xui khiến thế nào ấy, nên dường như đôi chân tôi cứ thế vô tư rảo bước mà chả thấy mệt, dầu cả ngày bụng lép kẹp đói đến cồn cào. Định vào đây, sẽ trèo lên tra (gác nhà) lấy trộm một ít tiền ken của Mệ để đánh đáo (Tiền do Pháp đúc chủ yếu bằng kim loại chì và kẽm thời Pháp thuộc, một mặt có chữ Pháp và một mặt có chữ Nam, vào thời đó bị vô hiệu không tiêu được nữa; nhưng Mệ vẫn cất giữ cả một dãy cót, với khối lượng ước tới hàng nghìn, chục nghìn quan).  Tới nhà Mệ, tôi bước qua kẹt cửa (bục cửa) để vào nhà. Thấy mệ Nội nằm sóng soài trên tấm ván bổ (Tấm ván to ghép khoảng 3 - 4 tấm ván mỏng với nhau dùng thưng che cửa). Tôi thầm nghĩ, chắc giờ này Mệ đang ngủ… Tôi rón rén tới nơi Mệ nằm. Ở dưới đất phía bên phải gần đầu Mệ, thấy một nửa chiếc bánh tráng (bánh đa đã nướng) để trong chiếc nón rách ngửa mặt, tôi định đưa tay bẻ xin Mệ một meéng (miếng - tiếng Hòa Ninh) ăn cho đỡ đói. Nhưng linh tính thế nào, tay tôi tự nhiên rụt lại và miệng thì lạc giọng gọi thất thanh mấy tiếng liền: “Mệ ơi! Mệ ơi! Mệ ơi!”…Lúc này, cả người đã như tá hỏa, tôi thất thần chợt nhận ra Mệ chết mất rồi! Tôi nhào xuống nhà ngang để gọi thím Toàn, nhưng không ai có nhà. Cứ thế, tôi câm lặng lao nhanh về nhà và gặp Mự ngay ở sân. Tôi la lớn: “Mệ chết! Mệ chết! Mệ chết rồi…” Thế là cả nhà gồm Mự, ả Liệu, ả Lài cùng chạy ào ra nhà Mệ.  Một chốc sau, mọi người như O Trợ Dịu (con gái duy nhất của Mệ), ông Câu Đằng (là em trai Mệ) và mấy người nữa cũng kịp tới.
Lúc này, tôi mới hoàn hồn để nhìn kỹ Mệ đang nằm đó. Vì bị quy “địa chủ” nên giường, phản, mọi đồ vậy… bị “Đội cải cách” tịch thu hết, Mệ đành phải ngả tấm cửa bổ ra trên nền đất để nằm.  Hình ảnh Mệ nằm đó gầy tong teo, mái tóc bạc trắng, hai cục xương bên hai thái dương nhô cao vì chỉ còn da bọc, hai má hỏm sâu bởi hai hàm răng không còn chiếc nào. Người Mệ lọt thỏm trong bộ đồ thao (vải tơ tằm) màu bàng bạc ngã vàng, đã rách mấy chỗ, mình nằm ngửa trên tấm ván bổ trệt sát nền nhà. Đôi mắt Mệ nhắm nghiền, ráo hoảnh, như đang hướng lên trên trời cao… Sau này, có mấy người ngoài chợ Trường nói lại với Mự tôi: Chiều ấy, vào đầu buổi chợ, Mệ ra đây và được ai đó cho nửa chiếc bánh tráng. (Nay tôi không còn nhớ tên nữa, nhưng là người trên Thành – bà con bên Công giáo, rất nhiều người nghĩa tình lắm). Người này cũng sợ liên lụy với “địa chủ” nên sau khi cho bánh liền ra hiệu để Mệ  chạy đi, rồi hô hoán là “mụ tra ăn cướp”, “mụ tra ăn cướp”! Cố nhiên, không có ai đuổi theo bắt “con địa chủ già” ăn cướp. 
Được nửa chiếc bánh tráng trong tay, Mệ bò nhanh về nhà. Khi tới nhà, Mệ đã kiệt sức do đói, không thể ăn được vì không còn răng. Ở tuổi gần 80 và tình trạng Mệ hiện tại thì ăn bánh tráng là phải ngậm từng mẩu nhỏ thật lâu trong mồm cho mềm ra mới nuốt được. Do đó mà Mệ đã bị luội sức đi trước rồi, giờ chết tức tưởi như vậy. Chết bên nửa chiếc bánh tráng chợ Trường!
Mệ chết đói bên cạnh nửa chiếc bánh tráng còn nguyên. Lúc này nửa chiếc bánh ấy có thể cứu sống Mệ nhưng nó đã như nửa vầng trăng khá xa, vầng trăng khuyết tận trên trời cao. Ôi cái bi thương khủng khiếp của kiếp người như Mệ cả thế gian này liệu có ai không? Tai ương của “Cải cách ruộng đất”, nó tàn ác như vậy!   
#
Một tên địa chủ chết, lập tức phải đưa chôn ngay. Phải tống khứ ra khỏi làng càng sớm càng tốt kẻ “bóc lột” này. Sợ con ma “địa chủ” trả thù hay sao mà lệnh của “Ủy ban hành chính xã” và “Đội Cải cách” được thực thi ngay trong đêm 23/4/1956.  Xã bắt những người bị quy “địa chủ” và con cái họ, tới để đưa đám. Những người đàn ông mặt xác xơ do thiếu đói thì đào huyệt mộ, những người đàn bà thì khiêng linh cữu. Theo trí nhớ của chị Liệu (chị gái tôi), có các bà và chị sau khiêng linh cữu: Mệ Huyên (mụ mọn của ông cụ Bản), Mự tôi, ả Liệu, hai ả Huệ và Hoe (con ông Trợ Đản), ả Hoàn (con mệ Thông Nhít), O Trợ Dịu. Người em ruột duy nhất của Mệ là ông Câu Đằng lo khâm liệm.  Đám tang không có lấy một nén nhang, ngọn nến để đốt, may mà có ánh trăng. Đã là “mười ba” âm, nên trăng khá đầy và sáng. Dưới ánh trăng, Mự tôi thở hổn hển cùng những người đàn bà già và mấy chị yếu ớt, chân mọi người như ríu lại bước thấp bước cao, lê đi rất khó nhọc trong đám đưa thê lương...        
Chừng ấy con người mà khiêng cỗ linh cữu được đóng bằng ván gỗ vàng tâm rất dày nên khá nặng; lại phải mò mẫm khiêng đi trong đêm khiến linh cữu nhiều lần bị vấp lên vấp xuống, ì à ì ạch suốt cả giờ mới tới nơi chôn cất ở bãi Hói Nại (ngoài bờ sông Hòa Ninh, xế bên kia là thôn Vĩnh Phước).  Thật trớ trêu là người ta ra lệnh chỉ những tên địa chủ là phải tới đưa tên địa chủ đã chết ra bãi đất hoang bên sông chôn chứ không được chôn trong nội đồng. Ruộng nội đồng được chia cho nông dân cả rồi, địa chủ không thể có một “dằm đất để cắm dùi” chứ đùng nói tới được chôn cất. Nơi Mệ nằm thế này, ngày xưa cùng lắm chỉ chôn cất những người gọi là “tứ cố vô thân”, những kẻ “ăn mày”, hoặc dân “Xuân Hồi” vô gia cư…Mỗi lần thủy triều lên (khi chưa đắp đê Cửa Hác), nước mặn dâng ngập cả bãi sình mom sông này. Nhà thím Lai là con dâu của Mệ còn mấy đám ruộng vốn được Mệ chia cho từ trước, tuy có liên lụy với địa chủ nhưng vẫn được ân phước là thành phần "nông dân" – vì thế nên Mệ không được chôn ở ruộng nhà thím ấy, nhà “nông dân”!  Chị Liệu vẫn còn nhớ rành rọt, Mự sai ra nhà thím Lai để gọi đi đưa Mệ, nhưng thím ấy “sợ” nên dứt khoát không đi; cả nhà  mấy đứa cháu nội vì thế cũng không đi. Sau này, Mự tôi cũng nhiều lần kể lại như vậy. Thím Lai vốn tốt với mẹ chồng, nhưng “Cải cách” nó làm cho thím ấy phải chịu tệ như vậy.   Ở thời đó, trong làng Hòa Ninh, không ít người con đấu tố cha mẹ ruột mình mà. Như anh Mừng, chồng o Hòa con mệ hội Huyến có họ hàng nội thân với Mệ, đấu tố cha mạnh tay quá làm rách mí mắt ông Lý Pháp (thầy dạy tôi thời “vỡ lòng”). Ông Ngoại tôi, Cụ Ngô Nhật Tuyên ở bên Phường, cũng bị thằng cháu ngoại là con trai người con gái cả Ngô Thị Nậy, tên là Nhuyền, đã dơ nắm đấm dí vào mặt ông ngoại mình đấu tố. Hắn còn vặt râu ông và quát lớn: “Mi biết tau (tao) là ai không?
Bi kịch trong Cải cách ruộng đất đã thành bi kịch toàn xã hội miền Bắc thời đó chứ không còn là sự bất hiếu riêng rẻ trong mỗi gia đình vốn tử tế, đã bị nó làm cho vô luân, hư nát, tệ hại đến vậy. Thật ngao ngán. Nói thêm về chiếc áo quan của Mệ. Trước biến cố “Cải cách ruộng đất” 1954 mấy năm, Mệ đã chuẩn bị “hậu sự” cho mình vì đã ngoài 70 tuổi. Bởi thế nên Mệ đã thuê thợ mộc ở làng là ông Tri Cầu chuyên buôn gỗ và có xưởng mộc, đóng cỗ quan tài bằng gỗ “vàng tâm” – thứ gỗ quý chịu nước nằm trong đất lâu năm khó hoai, để sẵn trong nhà. Tôi nhớ rõ cỗ quan tài đặt ngay gian giữa nhà, theo thời gian đã lên nước vàng ươm. Cả 4 tấm là 4 phiến gỗ nuột nà; hai đầu chạm khắc hoa văn cẩn thận, một đầu chữ “thượng”, một đầu chữ “hạ” theo lối chữ nho; ván “thiên” dày khoảng 1 gang tay. Cả chiếc áo quan to, bề thế hiếm thấy vào thời đó. Đến mùa, Mệ và thím Toàn thường chứa thóc trong cỗ áo.  Hôm bốc mộ Mệ là một ngày mùa hè nắng to, khoảng năm 1960 -1961. Khi quật lên, thấy rõ mồm một quan tài Mệ bị chôn nghiêng. Nghiêng nhiều lắm. Nghiêng ra phía rào (bờ sông). Không thể trách ai được, vì tình thế đưa đám Mệ diễn ra cực kỳ bất cập như vậy, quan tài không bị nghiêng lệch mới là lạ.    Mở nắp quan tài, tôi thấy nước dâng lên hơn phân nửa, rặt một màu vàng do đất mặn nhiễm nhiều phèn. Phía trên mặt nổi lềnh phềnh tấm áo còn nguyên sắc đỏ và vàng (áo 2 lớp, lớp ngoài là gấm màu đỏ, lớp trong là lụa tơ tằm màu vàng). Chiếc áo gấm Mệ đã cất giấu vô cùng tài tình, cốt cán của đội “Cải cách” không lấy được nên khi qua đời còn có mà mặc cho Mệ. Tới bây giờ, tôi vẫn không thể nghĩ và hình dung được là làm sao mệ cất giữ an toàn chiếc áo gấm này trước quân ăn cướp, vô lương của Cải cách ruộng đất? Những thằng được phong lên làm “cốt cán” là những đứa vô học, trợn trạc, lưu manh nhất làng nên luôn ranh mãnh và hung dữ lắm, mà nó “chịu thua” không thu được chiếc áo dài của Mệ tôi là quá lạ kỳ. Nhưng nghĩ kỹ lại, bọn này vẫn còn "nhân đạo", chứ sao chiếc áo quan quý nằm chềnh ềnh giữa nhà thế mà không bị "tịch thu"? Chắc áo quan là “danh mục” bị chính quyền cấp trên cấm đụng vào vì “kiêng kỵ” hay sao đó. Cũng có thể, chính quyền muốn tỏ ra có “văn hóa”, có “đạo đức” nên không táng tận đến cỡ để cấp cơ sở đàn em phải đụng tay đụng chân đến thứ mà những ông bà già nua sắp sẵn cái chết cho mình?
Mệ Nội tôi - Cụ Đoàn Thị Diệp, là con gái cả một gia đình họ Đoàn có truyền thống học hành - đỗ đạt. Là người phụ nữ đẹp, giỏi dang, ham làm giàu và ở phương diện này khá thành công. Cả đời Mệ luôn siêng năng tần tảo, căn cơ và tằn tiện. Nhờ đức tính đó mà với hai bàn tay trắng đã gây dựng nên cơ nghiệp, để lại cho mỗi người con một phần di sản của mình làm ra. Chồng mất sớm, một tay cụ gây dựng cho 5 người con, cả trai lẫn gái, người nào cũng nhà ngói, ruộng vườn và trở thành một trong những gia đình giàu có bậc nhất trong làng.Ngôi nhà rường bằng gỗ gụ, với bao đường nét chạm khắc tinh xảo, cụ mua của một ông quan từ huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) về dựng cho con trai Lê Duy Xinh, hiện vẫn còn nguyên vẹn ở làng.
Thật rất nghịch lý, một gia đình giàu có, đông con cháu, thế mà đại họa “Cải cách ruộng đất” rước từ Tàu về, đã đẩy Mệ tôi và hàng chục vạn người khác, trong đó có nhiều người kháng chiến cũ, có công với cách mạng tới cái chết vô cùng bi thương như vậy. Tội nghiệp Mệ quá Mệ ơi!
Hà Nội, ngày Biển Đông dậy sóng 
11/5/2014 
Cháu nội Lê Quang Vinh

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

6O NĂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT - BÀI HỌC ĐAU LÒNG

150 hiện vật, tư liệu gốc, ảnh tư liệu lịch sử về cải cách ruộng đất vừa được trưng bày trong triển lãm Cải cách ruộng đất 1946-1957 khai mạc sáng 8-9 tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (25 Tông Đản, Hà Nội).
Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Lê Như Tiến (thứ hai từ phải) đến xem triển lãm Cải cách ruộng đất 1946 – 1957 – Ảnh: Việt Dũng

150 tài liệu, hiện vật có thể là con số không nhiều cho 11 năm công cuộc cải cách ruộng đất các vùng nông thôn Bắc bộ. Không phải chỉ là những con số, tư liệu, báo cáo hay chỉ thị, cải cách ruộng đất thu hút người xem bởi phía sau mỗi bức ảnh, hiện vật là nụ cười, nước mắt.
Thành quả của cải cách ruộng đất
Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia VN, chính sách cải cách ruộng đất của VN tiến hành qua ba giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 1946-1949: tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho nông dân. Giai đoạn 2 từ năm 1950-1953: thực hiện giảm tô giảm tức, hoãn nợ và xóa nợ, thu thuế nông nghiệp, trong đó đánh thuế nặng đối với địa chủ. Giai đoạn 3 (ở miền Bắc) từ năm 1954-1957: phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất triệt để với các hình thức khác nhau như hiến ruộng đất, tịch thu, trưng thu, trưng mua, chia ruộng đất cho tầng lớp cố nông, bần nông và trung nông lớp dưới.  

NHỮNG VẾT THƯƠNG ÂM Ỉ
Thế hệ chúng tôi ra đời sau CCRĐ, sau này chỉ được những bậc cao niên kể lại, hoặc tham khảo tư liệu nhưng cũng hình dung ra bức tranh toàn cảnh của chính sách CCRĐ: Đồng ý là chủ trương  người cày có ruộng  hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ nhưng cách thực hiện nóng vội và bê nguyên mô hình cách làm của Trung quốc về áp dụng tại Việt nam thì không thể chấp nhận được, nhất là phần đấu tố địa chủ dẫn đến hành quyết bao nhiêu con người vô tội, bao nhiêu gia đình tang tóc ,ly tán. Con cái họ bị đối xử tệ bạc, làm khó dễ cả chuyện học hành sau này...Chính vì lẽ đó mà sau hiệp định Giơ-ne-vơ rất nhiều người Miền Bắc đã di cư vào Nam.
Trong triển lãm lần này có một mảng là PHẦN SỬA SAI khi thực hiện CCRĐ nhưng phần này khá mờ nhạt, và điều làm người xem triển lãm quan tâm là số người chết do CCRĐ là bao nhiêu thì không được công bố. Theo những người thạo tin thì con số đó khoảng 170.000 người. Thật khủng khiếp.
Điển hình của sự oan sai này phải kể đến trường hợp của bà Nguyễn thị Năm , tức Cát Hanh Long.
Từ một chủ hiệu buôn Cát Hanh Long lừng lẫy đất Hải Phòng, từng là người đóng góp tiêu biểu cho “Tuần lễ vàng” đầu tiên của đất cảng với hơn 100 lượng vàng, sau năm 1945 cụ Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, tiếp tục dựng nghiệp với hai đồn điền lớn mua lại của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên. Nhưng khi thực hiện thí điểm đấu tố cải cách ruộng đất, cụ lại bị lôi ra xử bắn với tội danh “tư sản địa chủ cường hào gian ác”. Và đến năm 1987, UBND tỉnh Bắc Thái – theo đề nghị của Ban Tổ chức trung ương – đã ra quyết định sửa lại thành phần cho cụ. 

MỘT CCRĐ KHÁC
Năm 1978 Nhà nước thực hiện cải tạo Tư sản, cải tạo Công thương nghiệp nhưng chính sách khô cứng dẫn đến không phát huy được thế mạnh của kinh tế tư nhân, nhiều người bị đẩy lên vùng kinh tế mới, tài sản cũng trắng tay.
THAY CHO LỜI KẾT
Thực tế chúng ta đã tiến hành sửa sai, nhưng với những người bị oan, bị đem ra xử bắn thì nỗi đau còn âm ỉ dai dẳng, nặng nề trong gia đình, thân nhân họ. Nếu nói còn trăn trở, day dứt gì cho giai đoạn này thì đó chính là việc chính sách, chế độ dành cho gia đình người chịu oan sai chưa được làm đầy đủ, trọn vẹn. Hẳn đó cũng là điều mà người thân của những người phải chịu oan sai còn lấn cấn.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

PHÚ QUỐC - MỘT LẦN ĐẾN

.Lên rừng, xuống biển cũng nhiều, nhưng đây là lần đầu tiên LD đến với Phú quốc - một hòn đảo ở xa đất liền và lớn nhất trong số các đảo ở vùng biển Việt nam. Ấn tượng khi đặt chân đến Phú quốc là màu xanh của thảm thực vật đa dạng và phong phú bao phủ khắp diện tích của đảo cùng với rừng nguyên sinh Quốc gia mà các đảo khác không có được. Đặc biệt trên đảo có rất nhiều những  đồi Sim. Dân trên đảo thu hoạch những quả sim chín chế biến thành món rượu sim, si-rô sim đem lại nguồn lợi không nhỏ, và được du khách ưa chuộng.


Những triền đồi tím ngắt hoa sim
Thị trấn Dương Đông - thủ phủ của huyện dảo Phú Quốc

Gia đình LD bên ngọn hải đăng

   


Hoàng hôn trên bãi tắm Dinh Cậu
Mũi Ghành Dầu ( xa xa là địa phận Cam-pu-chia )

                               Trong rừng có những cây cổ thụ ước tính khoảng 100 năm tuổi



                 

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

NƯỚC MÌNH VUI QUÁ ĐI THÔI !

NƯỚC MÌNH VUI QUÁ ĐI THÔI!
Trần Đức Anh Sơn
Cách đây chừng 2 năm tôi có đọc mấy trang mạng "lề phi Đảng" thấy đưa tin sự kiện Câu lạc bộ Phao lô Nguyễn Văn Bình ở Sài Gòn tổ chức tọa đàm về chủ quyền biển đảo Việt Nam. Có một nhóm chừng 20 sinh viên tới dự và đều mặc chiếc áo pull có in dòng chữ HOÀNG SA - TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM. Nhân viên an ninh tới buộc các sinh viên phải cởi những chiếc áo "chủ quyền" này ra nộp cho họ và thay bằng áo khác thì mới được dự tọa đàm. Một số người không chịu thay áo nên an ninh yêu cầu BTC tọa đàm buộc sinh viên phải thay áo, nếu không họ sẽ không cho phép tổ chức tọa đàm. Cuối cùng nhóm sinh viên kia phải chịu thua để buổi tọa đàm được phép tổ chức. Những chiếc áo "chủ quyền" đã bị lột sạch.
Vậy nhưng, chiều nay BTC cuộc triển lãm HOÀNG SA - TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM - NHỮNG BẰNG CHỨNG LỊCH SỬ VÀ PHÁP LÝ [do Bộ TTTT phối hợp với tỉnh Quảng Ngãi tổ chức, khai mạc vào 8h sáng mai (1/7/2014) tại Bảo tàng Quảng Ngãi và vào 8h sáng 2/7/2014) tại Nhà trưng bày Hoàng Sa - Bắc Hải trên đảo Lý Sơn] lại phát cho tôi (và tất cả đại biểu trung ương và địa phương về dự triển lãm) chiếc áo pull màu đỏ có in hình bản đồ Việt Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng dòng chữ HOÀNG SA - TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM (xem ảnh). Họ yêu cầu mọi người mặc chiếc áo này để dự lễ khai mạc triển lãm vào sáng mai và sáng mốt. Tôi cũng được yêu cầu mặc chiếc áo "chủ quyền" này khi phát biểu tại lễ khai mạc và khi thuyết minh cho quan khách đi xem triển lãm. Họ nói sáng mai và sáng mốt, khuôn viên Bảo tàng Quảng Ngãi và Nhà trưng bày Hoàng Sa - Bắc Hải ngoài đảo Lý Sơn sẽ "rợp" một màu đỏ. 
Tôi "cẩn thận" hỏi một chị trong BTC: "Tôi mặc áo chủ quyền này thì có bị an ninh làm khó dễ không?". Chị ấy cười: "Làm gì có. Áo này do Bộ TTTT duyệt thiết kế. Ok cả rồi. Mai cứ thế mà mặc. Anh khỏi phải lo". Tôi hỏi thêm: "Vậy sao năm ngoài người ta mặc áo này thì lại bắt lột bỏ, áo No U cũng thế?". Chị ấy lại cười: "Từ khi Trung Quốc đem dàn khoan vào thì tình hình khác rồi". 
Vậy là "nhờ" Trung Quốc kéo cái dàn khoan xâm lược vào "hạ đặt" trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam thì người Việt Nam, trong đó có tôi, mới có cơ hội công khai mặc áo "chủ quyền". Lại còn được mặc áo ấy "lên sóng" truyền hình nhà nước nữa chứ. Đã quá đi thôi. 
Ôi, nước mình vui quá đi thôi!
T.Đ.A.S.
____________ 

langdu: Còn nhiều chuyện vui nữa! chẳng hạn ngày ngày ti-vi đưa tin các nước trên thế giới và kiều bào ta biểu tình phản đối TQ xâm phạm chủ quyền VN nhưng trong nước lại cấm đoán chuyện biểu tình của người yêu nước

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

BAN-MÊ, CÒN MỘT CHÚT ĐỂ NHỚ


[​IMG] 

Có một miền đất đã gắn liền với truyền thuyết Nữ Thần Mặt Trời; có huyền thoại chàng Đam-san chặt cây Thần cứu mạng cho cô gái - người tình bất chấp lời nguyền tàn độc  kia; có những cánh rừng già bạt ngàn gỗ quý, những rừng cao su, đồi cà phê xanh mát trải rộng trên dải đất đỏ ba zan. Đó là miền đất Tây nguyên  rộng lớn với thủ phủ là thành phố Ban- mê -thuật.
Hơn 100 năm trước, những người Pháp đầu tiên đặt chân đến đây đã khám phá ra vẻ đẹp riêng có của vùng đất cao nguyên này. Những cây cao su, cà phê cũng theo chân họ "nhập cư" về đây, lập nên những đồn điền cao su, cà phê trù phú mà lúc đó còn xa lạ với người Việt. Đô thị Ban-mê- thuật cũng từ đây mà dần phát triển, trở thành thủ phủ của Tây nguyên.
[​IMG]
FESTIVAL CAFE
Chuyến đi công tác lần cuối của tôi đến với Ban mê vào giữa tháng 8- 1985. Đang là mùa mưa của Tây nguyên nên bấu trời Ban mê lúc nào cũng mọng nước.
 Buổi tối đầu tiên tôi kịp tìm đến một quán Cafe trên đường Nơ-Trang -Long trước khi trời đổ mưa. Trời mưa to, quán vắng. Cô chủ quán nói như phân trần: những hôm không mưa, quán đông khách lắm anh à! Rồi như chiều ý tôi, cô vặn to volume chiếc Cassette thời đó chạy bằng băng từ. Ca khúc ' giọt buồn không tên " lần đầu tiên tôi được nghe trong hoàn cảnh như vậy với đầy vẻ ý vị mà sau này tôi mãi yêu ca khúc ấy..
Sang đến ngày thứ ba, công việc của chuyến đi cũng đã hoàn tất thì đúng lúc Nhà nước có lệnh đổi tiền. Tôi là khách vãng lai nên phải kê khai tại bàn dành cho khách vãng lai để khi về Quy nhơn thì mới có giá trị. Nghèo "rớt trái mồng tơi" mà không hiểu sao lúc đó tôi lại "tự sướng" kê rất nhiều tiền còn để ở Quy nhơn, đến nỗi cô nhân viên đổi tiền tròn xoe mắt dò xét. Tôi còn nhớ,: buổi sáng hôm có lệnh đổi tiền tôi đem tất cả tư trang mang theo , kể cả mấy cái áo cũ đem ra bán với giá "trên trời" mà vẫn có người mua. Có lẽ họ sợ Nhà nước chơi lại chiêu đổi tiền hạn chế như hồi 1978 nên tốt nhất là mua bất kể cái gì còn hơn là để tiền mất giá trị. Buồn vậy đó!  8 năm trời mà 2 lần đổi tiền làm điêu đứng bao nhiêu con người. Sau này tôi mới ngộ ra nhiều điều : Bất cứ quốc gia nào mà đồng tiền bất ổn, luật này luật nọ, nghị định này nghi định kia cứ rối tinh cả lên thì  tầm cỡ quốc gia đó vẫn chỉ là câu chuỵện ngụ ngôn : ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG  mà thôi! Cứ nhìn nước Mỹ với bản Tuyên ngôn độc lập 1776 và Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 vẫn giữ nguyên giá trị suốt hơn 200 năm là câu trả lời đầy đủ nhất.
Trở lại với Ban mê tôi muốn nói về những cư dân sống trên cao nguyên này. Có lẽ đông nhất vẫn là người Kinh.Các dân tộc khác cũng góp mặt nhiều do sự di cư, nhưng phổ biến là người Êđê, Giarai, Bana Cơho.Có một điểm chung rất dễ nhận ra các tộc người thiểu số nơi đây là đôi mắt của họ. Tôi rất thích ánh mắt của họ có vẻ như hoang dại nhưng không vô hồn, nhìn vào đó như có "lửa" mà lại rất dễ gần . Họ sống chất phát như chính cao nguyên hoang sơ này.
Tôi có ý định thăm lại Ban mê mà chưa thực hiện được  Đành lỗi hẹn với Ban mê nhé! Hẹn có dip trở lại.
 LY CAFE BAN MÊ vẫn làm say lòng tôi đấy thôi!

                                            LD
Có một số bức ảnh về Ban mê sưu tầm từ Internet chụp trước 1975 không thay đổi nhiều so với thời 1985 , LD giới thiệu chỉ mang tính minh họa

Rạp Nguyễn Huệ - trên đường Quang trung
Góc dường Y JUT và NƠ TRANG LONG
Đường Y JUT
Nữ sinh BAN MÊ
Ngã tư  Nơ trang Long - Điện biên Phủ

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

NƠI CHỐN BÌNH YÊN


Ai đó trong cuộc đời mình rồi cũng trải qua những "giông bão cuộc đời" tùy vào hoàn cảnh mà mức độ "giông bão" khác nhau. Những lúc như thế, cách mà  người ta hay  làm là tìm đến một nơi trú ẩn, có thể là nơi sâu thẳm của tâm hồn hay một địa điểm cụ thể ngoài đời đã gắn bó dịu êm với họ để mà được trải lòng, được xoa dịu nỗi đau, tìm lại sự cân bằng cho cả tinh thần và thể xác. Địa điểm ấy có khi là một góc vườn xào xạc lá vàng rơi  mỗi đô thu về hay một bến sông xưa in dấu tuổi ấu thơ; một con đường mưa nắng đi về tuổi học trò hay một triền đê lộng gió buổi hoàng hôn; một cầu ao ta ngồi câu cá buổi trưa hè khi về quê ngoại....

Giông bão cuộc đời tôi cũng từng trải qua, thậm chí có lúc là "siêu bão ". Tránh làm sao được giữa một xã hội đảo điên, chụp giựt, lừa lọc, mánh khoé, mọi giá trị đạo đức gần như đổi thay. Những lúc đối mặt với "giông bão" đó, một âm thanh từ trong kí ức thường vọng về mách bảo tôi. Phải rồi, đó là tiếng chuông nhà Thờ.
Tôi không phải là tín đồ của Thiên Chúa Giáo nhưng lại có cơ duyên sống cạnh những giáo đường. Ở đó, những bài Thánh ca, tiếng chuông nhà thờ ngân như thúc giục mỗi chiều thứ Bảy và lan toả vào không gian đã là một phần cuộc sống của tôi tự bao giờ không biết nửa.
Ấy là  hồi tôi 6,7 tuổi, chiến tranh đang ác liệt, tôi theo cha mẹ di chuyển sơ tán nhiều nơi. Tôi nhớ nơi gia đình ở là căn nhà nhỏ nằm đối diện cổng giáo đường của Giáo xứ Xuân Trường. Nơi đây yên ả đến lạ thường, dường như không biết có sự hiện diện của chiến tranh.

Nhà thờ chính tòa Thanh hoa
 Với tôi, giáo đường ấy  là một thế giới khác hẳn : quyền uy và huyền bí. Quyền uy vì khi đứng nhìn từ xa, mái vòm nhà Thờ cao vút,vượt lên tất cả như một sự chở che. Còn huyền bí là bởi tiếng chuông nhà Thờ có sức truyền cảm rất lớn: lúc giục giã, lúc khoan thai dìu dặt như dòng suối âm thanh đổ vào thính giác mà ai nghe cũng cảm nhận được. Có một hình ảnh khó phai mờ trong tôi khi chứng kiến những bước chân vội vã, nửa như đi , nửa như chạy của  các bà xơ với chiếc áo choàng đen trong sân giáo đường mỗi khi có cơn mưa bất chợt hay những tà áo dài thướt tha đi về giáo đường trong buổi sáng Chúa nhật. Tất cả tạo nên một khung cảnh thanh bình chỉ có ở xóm Đạo.

 Vào các dịp Giáng sinh hay Lễ Phục sinh, bọn trẻ như tôi hay tò mò hòa mình cùng các ngày lễ ấy và cảm thấy thích thú, nhưng lại hay bị người lớn nói " bóng gió " : Trong đó ( ý chỉ Giáo đường) là phản động.! Tôi không tin  Sau này lớn hơn một chút tôi mới hiểu : mọi tôn gáo đều có ĐỨC TIN mãnh liệt và hướng con người đến giá trị CHÂN- THIỆN -MỸ.. Nhìn hình ảnh cả triệu người hành hương  về Thánh địa JERUSALEM mới biết niềm tin và khát vọng của con người trên thế gian này lớn đến nhường nào.
Gần đây cuộc sống ồn ào của thời hiện đại kiểu gượng gạo át đi tiếng chuông nhà Thờ quen thuộc một thuở. Hiếm hoi lắm ta mới  nghe được  vào lúc cầm canh  nửa đêm về sáng. Cũng là may mắn lắm rồi !

                                                            LD